Thứ Ba, 15 tháng 7, 2014

TINH THẦN VÔ TRƯỚC TRONG “ NGƯ NHÀN” CỦA KHÔNG LỘ THIỀN SƯ - Đào Thái Sơn


Thơ văn Lý – Trần là một di sản vô giá trong nền văn học Việt Nam. Nó không những thể hiện tầm vóc của con người kỳ vĩ, nồng nàn yêu nước mà còn là kết tinh của hệ tư tưởng phong phú Phật giáo. Mỗi bài thơ là một triết lý sâu thẳm nhưng cũng hết sức giản đơn tươi mới trong tâm hồn thanh thản, bình đẳng, đạt đạo. Ngư Nhàn (Cảnh nhàn của ông ngư ) của Dương Không Lộ là một.
Vạn lý thanh giang vạn lý thiên
Nhất thôn tang giá nhất thôn yên
Ngư ông thụy trước vô nhân hoán
Quá ngọ tỉnh lai tuyết mãn thuyền. 
(Muôn dặm sông trong liền với muôn dặm trời cao / Một thôn xanh mướt dâu đay, một thôn chìm trong mơ màng sương khói / Ông chài ngủ say chẳng ai lay gọi / Quá trưa tỉnh dậy tuyết đã rơi đầy trên thuyền).

Dương Không Lộ chưa rõ năm sinh, mất vào ngày 12 – 7 – 1119, người làng Hải Thanh nay thuộc tỉnh Nam Định. Tổ tiên ông mấy đời làm nghề chài lưới, đến đời ông thì bỏ nghề đi tu theo dòng Thiền Quan Bích, ông là bạn thân với sư Giác Hải. Văn nghiệp của ông còn lại chỉ hai bài thơ viết bằng chữ Hán là Ngôn hoài ( Tỏ lòng ) chép trong Thiền uyển tập anh và bài Ngư nhàn ( Cảnh nhàn của ông ngư) mới tìm được trong những năm ba mươi của thế kỷ trước. 
Đối với bài  Ngư nhàn, Nguyễn Huệ Chi nhận xét: “ …là một bức tranh sơn thủy sinh động : một khúc sông nước biếc liền trời, dâu chen, khói tỏa; trên con thuyền, một bác chài thong dong ngủ say. Đó là biểu tượng của sự “ đại ngộ” – giác ngộ thiền ở mức cao: đạt tới cái tâm thanh tịnh” .  Chúng ta thấy hầu hết các thi phẩm thời kỳ này đều có yếu tố thiên nhiên. Thiên nhiên và con người hòa làm một, trong cảnh có người trong người có cảnh, tâm và vật không còn phân biệt. Các thiền sư thi sỹ mượn cảnh để khai tâm khải ngộ, lẽ sinh tử không còn là nỗi ám ảnh mà nó luân chuyển hết sức nhẹ nhàng, con người như thấu suốt vạn pháp nên vô chướng ngại. Ông chài đại ngộ giữa bao la đất trời sông nước. Cảnh như một tấm gương phản chiếu tâm, nên tâm càng trong suốt. Tâm trong suốt nên tâm không vướng mắc bất cứ thứ gì. Đoàn Thị Thu Vân rất có lý khi cho rằng : “ Giá trị chủ yếu của bài thơ là sự cất cánh của một tâm hồn thi sỹ. Sự cất cánh ấy hóa thân vào nhân vật ông chài, hóa thân vào trời đất, cỏ cây, sương tuyết, Không còn mảy may những ham muốn trần tục tầm thường. Trần đã thành tiên nơi cảm xúc…Một sự hòa điệu tự nhiên, trọn vẹn giữa con người và ngoại vật – Ta – vật đều quên, tất cả là một, hồn nhiên tự tại, không giới hạn, không bờ bến”. 
Chúng ta nên nhớ rằng trong thơ thiền thiên nhiên chỉ là một phương tiện để biểu hiện tư tưởng. Thiên nhiên không hẳn là thiên nhiên mà còn là cái cớ để thấy sự tác động của hai chiều Tâm – Vật. “ Muôn dặm trời” là có nhưng cái có đó được phản chiếu bởi “muôn dặm sông trong” bầu trời vừa là thực mà cũng vừa là ảo. “Thôn dâu đay” là thật nhưng nó được nhìn từ “thôn sương khói mơ màng”. Tất cả như có nhưng qua giấc ngủ như không có. Vậy tuyết ở đâu ra mà rơi đầy trên thuyền lúc quá trưa? Đó chẳng qua là những phương tiện hình thức để biểu thị “đại giác”. Vì theo Trần Nhân Tông “Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền”.
Tinh thần cao nhất của Phật giáo nằm ở chỗ “Trung đạo”. Kinh Niết Bàn nói: “Thấy tất cả đều là không, mà chẳng thấy cái chẳng không, chẳng gọi được là Trung đạo. Thấy hết thảy cái vô ngã mà chẳng được cái hữu ngã cũng chẳng gọi là Trung đạo..”. Bài Ngư nhàn của sư Dương Không Lộ đã đạt đến cảnh giới của Trung đạo là thế! Tác giả đã chẳng mắc vào cái Có, cũng chẳng mắc vào cái Không. Đó là tinh thần “Vô trước”.  Đó là cái tâm không còn bị “ràng buộc” , không còn “bị mắc” vào đâu cả. Hình ảnh “ông chài ngủ chẳng ai lay” là tượng trưng cho sự khai phóng tuyệt đối. Con thuyền là phương tiện đưa qua hai bờ “dâu đay” và “sương khói”, qua đến bờ rồi thì “ngủ một giấc ngon lành” không lệ thuộc nó nữa, thuyền câu mà chở tuyết thì cũng có làm sao! Tất cả đều là giả danh chẳng có thực…nên lời thơ mới chứng vào cảnh tuyệt đối. Điều này rất ứng với lời Kinh Viên Giác : “Các lời dạy của Khế kinh chẳng khác nào ngón tay chỉ mặt trăng. Nếu đã thấy mặt trăng rồi, thì có thể biết cái để chỉ mặt trăng không phải là mặt trăng. Tất cả lời nói của Như Lai khai thị Bồ Tát cũng đều như thế”.
Sư Không Lộ mượn cảnh nửa thật nửa ảo ấy trộn đều rồi cho chảy qua giấc ngủ để thành tuyết. Hình ảnh siêu việt đó là ý niệm tư tưởng phá trừ kiến chấp. Như một giáo lý nhưng không hề giáo điều. Cảnh Chân Như tuyệt đối trong Ngư nhàn chẳng phải ở chỗ cảnh vật thông qua văn tự mà là sự yên lặng hạnh phúc cho tâm hồn đạt đạo. Sông trong luôn chảy, trời cao lúc thấy lúc không, thôn xóm của sinh kế cuộc sống nhưng rồi cũng chỉ là ảo ảnh khói sương. Cuộc đời sau giấc ngủ còn lại cái gì? Tuyết? Đó là cái tuyệt diệu im lặng – Nirvâna mà thôi. Đó cũng là con người hòa nhập với đất trời, con người của vũ trụ. Cái tâm đã trống không, vô phân vô biệt, quên vật quên mình. Con người đã vượt qua cái hữu hạn vốn có của nó để đạt đến cái vô hạn vô ngã…vô cùng.

ĐÀO THÁI SƠN

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Cám ơn bạn đã thảo luận!