Thứ Hai, 30 tháng 6, 2014

Khúc anh hùng ca “Gió từ mộ gió” - Hương Thủy


GIÓ TỪ MỘ GIÓ

Vía hồn có thịt xương không
Hàng trăm mộ gió phập phồng đó đây
Biển vơi thoắt biển lại đầy
Thủy triều lên xuống
Đông?
Tây?
Chập chờn

Hắt hiu ma đóm lửa vờn
Sống thù
Thác bạn
Thiệt hơn nỗi gì
Muôn đời sinh ký tử qui
Không nâu đất cũng xanh rì nước ôm

Hơi sương sớm
Khói chiều hôm
Xương dâu thịt sét
Bấc nồm gọi lên
Tình quê trả nợ nước đền
Sá gì trôi nổi lênh đênh hình hài

Trường Sa muôn dặm cát dài
Gọi Hoàng Sa
Đảo vươn vai nối vòng
Giữ cho biển lặng trời trong
Gió mênh mang thổi
Gió ròng rã bay

Nhẹ bàn chân
Khẽ bàn tay
Anh linh lớp lớp giăng dày nước non
Hùng binh một mất mãi còn
Thổi bùng lên
Gió
Máu son nhuộm trời

Nguyễn Ngọc Hưng


Khúc anh hùng ca “Gió từ mộ gió” 



Tổ quốc luôn là đề tài máu thịt, thiêng liêng của các nghệ sỹ nói chung và các thi sỹ nói riêng. Từ thưở cắp sách đến trường, học sinh chúng ta đã sang sảng đọc Bài ca Hắc Hải (Nguyễn Đình Thi), đã kiêu hãnh với Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng (Chế Lan Viên), đã ngân nga Gió lộng (Tố Hữu)… Tổ quốc lộng lẫy! Tổ quốc hào hùng! Tổ quốc kiên cường! Tổ quốc đau thương! Tổ quốc hôm nay đã sạch bóng thù, nhưng, những vết thương lòng không phải đã được hàn gắn hết. Bao thế hệ cha anh chúng ta đã ngã xuống trên chiến trường khốc liệt, đã tan hòa trong đất cỏ quê hương, đã hóa thành sóng gió vô thường, để mãi mãi là nỗi tiếc thương không gì bù đắp được.


Quê tôi bên dòng Thạch Hãn, các anh hùng nằm yên nghỉ dưới sông, thế nên đến ngày Rằm hay Mồng Một, Lễ hay Tết, người ta thả đèn hoa xuống dòng sông tưởng nhớ. Quê bạn ở Quảng Ngãi, đảo Lý Sơn và bao nơi nữa cũng thế và hơn thế, các hùng binh ra đi, yên nghỉ đời đời dưới lòng đại dương, vậy nên người ta chỉ thả một vài vòng hoa nhưng lại đắp rất nhiều mộ gió. Mộ gió không có gì, một chút cũng không, chỉ có gió. Gió choàng tay ôm ấp  đại dương, gió mơn man ve vuốt đất liền, gió an ủi con côi, mẹ góa, gió ăm  ắp bốn mùa chan chứa tình quê. Bài thơ Gió từ mộ gió của Nguyễn Ngọc Hưng đã cho tôi những cảm nhận mênh mông như thế!



Bài thơ đã đem đến cho tôi biết bao xúc cảm, trước tiên là lòng thương cảm đến xót xa, đắng đót:



Vía hồn có thịt xương không 
Hàng trăm mộ gió phập phồng đó đây 
Biển vơi thoắt biển lại đầy
Thủy triều lên xuống 
Đông? 
Tây? 
Chập chờn



Quang cảnh “Hàng trăm mộ gió phập phồng đó đây” trong không gian biển thoắt “vơi thoắt biển lại đầy”, “Thủy triều lên xuống”, trong cái phương hướng mờ ảo mông lung khó xác định “Đông?/ Tây?/ Chập chờn” thật khiến cho lòng người nao nao khó diễn tả nên lời. Biết chắc là mộ gió chỉ có gió, nhưng câu thơ mở đầu: “Vía hồn có thịt xương không” cũng làm tôi đau lòng muốn khóc. Trước mắt tôi bỗng hiện ra một nghĩa trang mộ gió giữa thăm thẳm biển trời, chập chờn trong sương bay gió hú thật hiu quạnh, hiu quạnh đến rợn người. Phải có một tấm tình dào dạt, một nỗi niềm thương cảm sâu sắc lắm mới có thể có những vần thơ chất chứa nỗi niềm xót xa đến vậy.



Trên cả thương cảm, hình như nhà thơ đã thấu đáo, đã giác ngộ những điều tưởng như khó mà thấu hiểu:



Hắt hiu ma đóm lửa vờn
Sống thù
Thác bạn 
Thiệt hơn nỗi gì 
Muôn đời sinh ký tử qui
Không nâu đất cũng xanh rì nước ôm



Quan niệm về cái chết của nhà thơ được đặt trong hàng loạt các cặp từ đối nghĩa: Sống- thác, Bạn- thù, Thiệt- hơn, Sinh- tử thật độc đáo và cũng thật giàu tính nhân văn. “Sống thù/ Thác bạn”, đạo lý nhân ái của dân tộc mình chẳng phải cũng đơn giản như vậy thôi sao. (Tôi chợt thấy đâu đây giọt nước mắt thương xót của Nguyễn Du khi chứng kiến cảnh xương trắng phơi đầy thung dưới cửa ải Quỷ môn quan. Cái núi xương trắng kia nào chỉ là của quân xâm lược, mà còn là của những người lính Đại Việt, của những người dân thường Đại Việt nữa. Bây giờ, cùng phơi trắng ở nơi hiu quạnh này. “Sống thù/ Thác bạn” phải chăng cũng như vậy). Một quan niệm khác về cái chết: “Muôn đời sinh ký tử qui”, sống là gửi, chết mới thực về, thế nên, mấy hơn- thiệt, thắng- thua rốt rồi cũng theo quy luật sinh- trụ- hoại- diệt mà muôn hình vạn trạng hóa thân.  Vì vậy mỗi người chúng ta sớm muộn gì cũng hóa sương hóa gió trở về không đất mẹ cũng biển cha: “Không nâu đất cũng xanh rì nước ôm”. Cái nhìn nhân ái, lạc quan và thật bao dung của nhà thơ cũng chính là sự giác ngộ tư tưởng nhân đạo, đạo lý nhân ái của dân tộc.



Khổ thơ tiếp theo lại là một quan niệm khác về cái chết của những anh hùng: Trách nhiệm với Tổ quốc, với dân tộc và tinh thần xả thân với Tổ quốc, với dân tộc:


Hơi sương sớm

Khói chiều hôm 
Xương dâu thịt sét 
Bấc nồm gọi lên 
Tình quê trả nợ nước đền
Sá gì trôi nổi lênh đênh hình hài

Trường Sa muôn dặm cát dài
Gọi Hoàng Sa
Đảo vươn vai nối vòng 
Giữ cho biển lặng trời trong 
Gió mênh mang thổi
Gió ròng rã bay



Hai khổ thơ như hai ý tương hỗ. Nếu khổ thơ trên là tinh thần trách nhiệm với “Tình quê trả nợ nước đền”, thế nên dẫu “Xương dâu thịt sét”, hình hài “lênh đênh trôi nổi” thì cũng không sá gì; thì khổ thơ dưới lại “bồi đắp” thêm, nâng cao thêm để tinh thần trách nhiệm trở thành ý chí, lý tưởng xả thân. “Xương dâu thịt sét” đã hóa thân thành gió “Mênh mang thổi”, “Ròng rã bay” để nối Hoàng Sa với Trường Sa, nối Trường sa, Hoàng Sa với đất mẹ; để “Giữ cho biển lặng trời trong” thái bình yên ả. (Tôi lại gặp đâu đây khát vọng xả thân vì sự tồn vong của dân tộc của Trần Quốc Tuấn: “… Tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa chỉ căm tức chưa xả thịt lột da… quân thù. Dẫu cho trăm thân phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác gói trong da ngựa cũng cam lòng” ). Phải chăng lý tưởng dâng hiến cho Tổ quốc, xả thân vì dân tộc là điểm chung của các anh hùng! Nhưng hơn thế, kể cả khi đã “Xương dâu thịt sét”, họ vẫn muốn cống hiến, vẫn muốn có ích cho Tổ quốc. “ Mênh mang thổi”, “ ròng rã bay” là hình ảnh tuyệt đẹp về lý tưởng ấy.



Nhẹ bàn chân
Khẽ bàn tay 
Anh linh lớp lớp giăng dày nước non
Hùng binh một mất mãi còn
Thổi bùng lên 
Gió 
Máu son nhuộm trời



Khổ thơ cuối đã gieo vào lòng tôi niềm kiêu hãnh vô bờ. “Anh linh lớp lớp giăng dày nước non” đang góp gió để thổi bùng lên khát khao gìn giữ bờ cõi yên bình. Hình ảnh “Máu son nhuộm trời” ở cuối bài thơ là khát vọng cờ đỏ mãi mãi mãi tung bay trên vùng trời, vùng đất và vùng biển Tố quốc thân yêu. Họ đã hy sinh, nhưng mãi mãi, máu của họ đã tô thắm màu cờ Tổ quốc, như ánh bình minh rạng rỡ chân trời.


“Gió từ mộ gió” của Nguyễn Ngọc Hưng đã mang đến cho người đọc thật nhiều cung bậc cảm cảm xúc. Với khổ thơ lục bát truyền thống, để chuyển tải bao tâm trạng dồn nén, nhà thơ ngắt dòng sáu, dòng tám thành nhiều dòng, tạo nên một âm hưởng bi ai mà hùng tráng, như những tiếng nấc nghẹn ngào vừa xót thương, khắc khoải vừa thúc giục, kiêu hùng. Những cung thanh cảm xúc: Từ xót xa đến khâm phục rồi tự hào; Từ thấu hiểu cái chết đến trân trọng lẽ sống; Từ thấm nhuần đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” đến lý tưởng cống hiến, xả thân... đã khiến ta yêu quý hơn, có ý thức bảo vệ, gìn giữ tốt hơn những thời khắc đang được sống yên bình, hạnh phúc. 



Đà Nẳng 5/8/2013
Hương Thủy


1 nhận xét:

  1. Bài thơ rất hay mà bài bình của Hương thủy không nêu ra đuộc. Chỉ có một điều đáng tiếc là không nên dùng hình ảnh "Mộ gió" mà nên thay bằng "Mộ sóng" Vừa cụ thể hơn, hình ảnh mộ sóng mới liên hệ đuộc các hình tượng nghệ thuật mà tác giả dùng trong bài thơ .Xin có một óp ý nho nhỏ

    Trả lờiXóa

Cám ơn bạn đã thảo luận!