Thứ Bảy, 24 tháng 5, 2014

KHÔNG GIAN TÂM TƯỞNG TRONG “LỐI VỀ” CỦA ĐỖ THU TRANG- Đào Thái Sơn





Thơ là một cái khác. Cái khác đó được người ta chấp nhận trên phương diện tiếp cận ở nhiều quan điểm của những hệ mỹ học riêng. Thi pháp học hiện đại chú trọng nhìn và khám phá thế giới thi ca bằng việc khám phá hình thức mang tính nội dung. Và trong cái hình thức đó không gian tâm tưởng, không gian cảm xúc, không gian ước vọng… như là một cái khác không thể thiếu. Ta đọc “ Lối về” của Đỗ Thu Trang như một lời chứng nghiệm.
 
Em về với mùa thu lá đổ
Con đường vàng ngập lá me bay
Mẹ gánh gồng hoàng hôn màu đỏ
Cho mắt con rộn rã vui say

Em về với mùa đông lặng lẽ
Cánh đồng làng rơm rạ héo hon
Con cò gầy chân bùn tím tái
Tất tả chiều, cua cá dành con

Em lại về ghế đá hàng cây
Mùa hạ buồn xót xa mắt phượng
Người ra đi không lời hẹn ước
Để giờ này sóng mắt cay cay

Em về lạc lối giữa quê hương
Ba mươi xuân. Thời gian mỏi mắt
Sông xưa có thể nào trở lại
Xanh những mùa sau cho lối em về.

( Theo Tạp chí văn nghệ Tây Ninh – Số 45, tháng 3,4/2014) 

Chúng ta đã biết bản chất của văn học là phản ánh đời sống bằng hình tượng, chính vì vậy mà hình tượng nghệ thuật là linh hồn của tác phẩm văn học nghệ thuật. Nghệ thuật khẳng định vẻ đẹp tâm hồn con người. Không gian nghệ thuật không phải là không gian vật chất mà chủ yếu là không gian của tinh thần, không gian của tâm tưởng, cảm xúc, ước vọng, hồi tưởng… và nó cũng có nhiều lớp như không gian vũ trụ, không gian xã hội, không gian địa lý, không gian cư ngụ và không gian tâm tưởng.

Lối về - chia làm bốn không gian của bốn lối về tâm tưởng, cảm xúc. Bốn không gian ấy được liên kết bằng bốn khoảng thời gian ký ức. Đó chính là không gian quê hương của tác giả !
Em về với mùa thu lá đổ
Con đường vàng ngập lá me bay
Mẹ gánh gồng hoàng hôn màu đỏ
Cho mắt con rộn rã vui say

Bắt đầu là không gian của mùa thu. Mùa thu không thấy lá vàng mà chỉ nghe lá đổ, mỗi chiếc lá trên con đường ngập vàng chi chít ấy chính là những mảnh vỡ của tâm hồn con người khi đối diện với ký ức xa xưa. Chính cái ký ức ấy làm sống dậy hình ảnh người mẹ “ gánh gồng hoàng hôn màu đỏ”. Và cái màu đỏ ấy chính là tác giả đã thấu nhìn qua không gian trái tim gian nan của người mẹ kính yêu, để cho “ mắt con rộn rã vui say”. Đó chính là cái say trong rộn rã của sự cảm nhận hạnh phúc mong manh của kiếp người ít nhiều thống khổ… Cũng như mùa thu làm cho cây say  đổ lá, lá say đổ xuống làm cho con đường ngập ánh nắng vàng, con đường vàng  say bước mẹ gánh gồng…..và cuối cùng làm ánh mắt em say tất cả. Bốn câu thơ đã lột tả được tâm trạng tác giả trong một không gian bé nhỏ, cũ kỹ nhưng hết sức vĩ đại của sự ước vọng thiên thu.

Em về với mùa đông lặng lẽ
Cánh đồng làng rơm rạ héo hon
Con cò gầy chân bùn tím tái
Tất tả chiều, cua cá dành con

Từ không gian mùa thu chuyển qua không gian mùa đông. Mùa đông không có mây xám mà là mùa đông của sự lặng lẽ. Lặng lẽ của sự hi sinh và thân phận. Nếu khổ thơ trên là hình ảnh của người mẹ hiện tồn, thì ở đây ta bắt gặp một con cò ẩn dụ của ca dao cổ.  Nếu con cò của Vương Bột bay lướt qua ráng chiều, con cò của Xuân Diệu còn phân vân đôi cánh chưa chịu rời buổi chiều hôm…thì con cò ở đây không có cái lãng mạn ấy mà nó bị bùn làm tím tái đôi chân, nó còn đang tất tả để “ cua cá dành con”. Không gian của cánh đồng làng buổi chiều dễ khiến con người ta trôi ngược miền dĩ vãng. Dĩ vãng gần, dĩ vãng xa…dĩ vãng của sự cưu mang và yêu thương…dĩ vãng của chuyện miếng cơm manh áo. Cũng như vì rơm rạ héo hon, nên cái khó nghèo luôn ám ảnh, tạo nên bức tranh đẹp một cách hiện thực. Bức tranh ấy là một không gian mở, con cò gầy là điểm trung tâm….và bức tranh ấy chỉ điểm sơ một màu tím tái. Nhưng nó đủ làm người thưởng lãm tím tái trái tim. Có thể nói khổ thơ trên là thực trong cái ảo, thì khổ thơ dưới là ảo trong cái thực. Cả hai chìm trong một không gian hàm chứa đến mấy chiều biến động.
Em lại về ghế đá hàng cây
Mùa hạ buồn xót xa mắt phượng
Người ra đi không lời hẹn ước
Để giờ này sóng mắt cay cay

Mùa hạ. Không gian tâm tưởng có sự chia tách. Nếu hai khổ thơ trên hòa làm một không gian hi sinh và lam lũ, thì nó chính là điều kiện để nảy nở không gian này. Không gian của kỷ niệm “ ghế đá hàng cây” , của tuổi học trò, của tuổi trưởng thành và của bao không gian tâm hồn vô tư – nuối tiếc. Chính cái không gian vô tư xa xưa là tiền đề cho “ người ra đi không lời hẹn ước”, và thời gian tưởng đã xóa nhòa cái không gian ấy, nhưng có ai ngờ nó chỉ tạm chìm khuất vào góc nào đó của tâm thức và bất chợt trỗi dậy trong khoảnh khắc của “ Lối về” và của “ sóng mắt cay cay”. Một đoạn thơ hay, mắt người cay nên đỏ, mắt phượng đỏ nên thấy cay. Cả hai con mắt ấy có phần xót xa nhưng rất diễm lệ trong không gian dấu ái một thời.

Em về lạc lối giữa quê hương
Ba mươi xuân. Thời gian mỏi mắt
Sông xưa có thể nào trở lại
Xanh những mùa sau cho lối em về.

Một mùa xuân….hoặc… Ba mươi xuân…vẫn là một không gian xuân lạc lối. Con người sinh ra để mà đi. Đi để mà tìm về. Nhưng kỳ thực có mấy ai đi được đến nơi và về được đến chốn ! Chính cái bất hòa của vũ trụ cát bụi này mà làm cho người ta có cảm giác bại – thành; được – mất. Cái được thì chẳng bao nhiêu nhưng hình như cái mất là nhiều quá..nên mới có cảm hoài “ em về lạc lối giữa quê hương”.  Lưu Thần và Nguyễn Triệu chỉ rong chơi có “ nửa năm tiên cảnh” mà khi trở về quê cũ đã là  “ một bước trần ai”. Huống chi ở đây đã “ Ba mươi xuân” thì thử hỏi thời gian nào trôi xuôi mà không “ mỏi mắt” ! Nếu “ không ai tắm hai lần trên một dòng sông” thì ở đây con sông xưa chỉ còn là không gian của ước vọng mơ hồ, dù đó là những ước vọng “xanh những mùa sau”….

Đoạn cuối là một tổng hợp có chủ ý nghệ thuật. Đoạn 1- 2 là tác giả sống trong ký ức của sự hi sinh lam lũ của người thân và từ đó trưởng thành. Đoạn 3 là nuối tiếc một thời không trở lại để rồi biền biệt ra đi. Đoạn 4 đúng nghĩa với trở về trong cái bao hàm không gian ấy. Không gian của quê hương, có tất cả những cái không gian bé nhỏ nhất ẩn nấp. Nếu năm xưa là ước vọng đập vỡ để đi tìm cái mới mở mang thì cái năm của “Lối về” là ước vọng tìm lại những mảnh vụn của năm xưa đập vỡ. Tâm lý người ta là vậy !

Heidegger triết gia Đức đã nói : “ ngôn ngữ là cái nhà của dân tộc mà mọi người trong cộng đồng đất nước đều có thể gặp nhau, thông cảm, đoàn tụ, sinh sống trong tiếng nói; như thế tiếng nói là nơi cư ngụ chung. Nhà văn nhà thơ là người canh gác nơi cư ngụ đó ”. Tác giả của thi phẩm “ Lối về” đã góp phần làm được điều đó. Lối về của tâm hồn dù có chút u buồn nhưng vẫn đẹp. Đỗ Thu Trang không cần tung tẩy cho con chữ nhuộm màu mè, cũng không cách điệu cho hoa mỹ. Chị âm thầm mượn một chút không gian nghệ thuật, và xé nó ra thành vài mảnh không gian tâm tưởng để chuyển tải một tâm lý chung người Việt. Đó là thường rất ngại đi xa vì nơi chốn nhau cắt rốn chính là nơi sống ở thác về của mỗi con người, nơi đó có tất cả những gì quý báu nhất của tâm hồn.

ĐÀO THÁI SƠN

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Cám ơn bạn đã thảo luận!