Thứ Tư, 3 tháng 7, 2013

ĐỌC “NÚI & LỤC BÁT HIÊN SÔNG” - Trần Hoàng Vy

( Thơ Trần Thế Vinh, NXB Hội Nhà văn, tháng 12/ 2012)


     Thông thường khi nói hay viết về vùng đồng bằng sông Cửu Long, người ta hay nghĩ đến một vùng sông nước, kênh mương chằng chịt và những cánh đồng cò bay thẳng cánh, song đối với Trần Thế Vinh, nhà thơ quê Núi Dài, Thất Sơn, An Giang thì cứ ám ảnh bởi núi, dãy núi duy nhất nằm ở hai huyện Tri Tôn, Tịnh Biên của tỉnh An Giang. Thơ Vinh viết về ngọn núi quê hương khá nhiều, chính vì lẽ đó mà tác phẩm lần thứ 9 này, Trần Thế Vinh chọn cho thi phẩm của mình cái tên: “ Núi & lục bát hiên sông”, tập thơ gồm 148 trang, 72 bài thơ chia làm hai phần: Phần I có tựa đề là Núi, 51 bài thơ, hầu hết là thơ tự do. Phần II mang tên Lục bát hiên sông, gồm 21 bài thơ lục bát. Tập thơ do Hội Liên hiệp VHNT An Giang liên kết cùng NXB Hội Nhà Văn ấn hành.


     Nghĩ về Thất Sơn, Trần Thế Vinh có những câu thơ: “ Đá Thất Sơn cao thấp, ngửa nghiêng/ Chập chùng thương nhớ biết riêng từng người” ( trang 7), bởi nơi đây nhà thơ từng có nhiều kỷ niệm: “ Nơi má tôi thời xuân xanh trèo lên tuột xuống/ Đá xước ngón chân con gái dậy thì/ Ông nội tôi may nóp ra đi/ Vạt ngọn tầm vông đánh Tây xâm lược” và “ Má cắt tranh/ Ba dựng nhà ven triền núi…/ ….Năm bảy lăm- thanh bình/…Tôi nghỉ học xếp lại tuổi thơ/ Theo chú Mười làm cách mạng…” ( trang 30,31)
     Người thơ đã xem những địa danh núi Dài, Ô Bà Bọc, Ô Tà Sóc, Tức Dụp… như những gì thân thương nhất, cho nên đã thầm nhủ: “ Mỗi lần đi/ Và lần về. Tôi như người mang nợ/ Trước cây cỏ, vạt rừng, hang động, suối khe…” ( trang 33). Từ ngọn núi quê hương, Trần Thế Vinh đã đến với những vùng núi khác, ngọn Phăngxiphăng ở dãy Hoàng Liên Sơn, rồi Si Ma Cai, rung cảm trước hùng vĩ của núi: “ Cầm ngọn Bắc phong- đèo Bản Mế/ Se thắt lòng ta nối khúc truông dài/ …. Sẽ hẹn, như lần đầu không hẹn/ Miệt đồng bưng ta nén giọt thơ tràn” ( trang 41), có gì đấy như một tráng ca của người tráng sĩ?
     Có lẽ với số lượng 51 bài thơ cho phần I là quá nhiều, dàn trải? Nhà thơ gốc lính, từng chiến đấu giữ bình yên cho ngọn Thất Sơn, nên cứ để tình cảm buông thả, những xúc cảm trần trụi, mộc, như những “bông rêu”, song cũng lấp lánh những vẽ đẹp: “ Vạt đồng Trà Sư/ Mặt nước tháng tư thẳm sâu tận đáy/ Vụt nở tím bông rêu hoang dại…” ( trang 80).
Trần Thế Vinh chuyển ngành sang lĩnh vực Truyền thanh, truyền hình, nắm giữ một đài huyện, lại là vùng “núi” biên giới của An Giang với Campuchia, có dịp đi nhiều, lặn lội cùng với cơ sở, nên mảng thơ Lục bát của Vinh mềm mại hơn, gợi hơn với chất thiền của phái Phật giáo Nam tông Khmer: “ Đêm trăng. Trắng nỗi chơ vơ/ Gió lay đọt chuối, lục tơ nhuốm vàng” hay như: “ Tôi ngồi tập đếm canh trường/ Ai còn chờ thức cuối sương tiếng gà” ( trang 114). Và với những hư vô, vô hồn Bến cũ: “ Về thăm bến lở đuôi cồn/ Cây bần xõa tóc. Vô hồn. Biệt tăm…” ( trang 116).
     Trăn trở với “Lời dặn trăm năm của má”, Trần Thế Vinh tâm sự: “ Tôi giỡn sóng/ Nên lạc đàn/ Má đi…khuất bóng trong ngàn cỏ cây” rồi thì: “ Mồ côi mẹ/ Cõi đời ta/ Như sông thiếu bến, núi đà thiếu cây!” ( trang 119Cõi đời ta/ Như sông thiếu bến, núi đà thiếu cây!"g gà" giáo Khmer: "ên một mảng thơ ng " bình yên cho ngọn Thất Sơn). “Thơ tặng trái mai đen”, có những phát hiện tinh tế: “ Biết rằng rồi trái cũng rơi/ Biết rằng đất ấy mai rồi lại xuân” ( trang 120). Ngay cả uống rượu, Vinh cũng có nhận xét: “ Rượu Sim khác với rượu Đào khi say” ( trang 121), thì ai bảo thi sĩ say… không biết gì?
     Là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, song cũng giống với bao người làm văn chương ở tỉnh lẻ, thiếu điều kiện để cọ xát, và PR cho chính những “đứa con yêu”, thêm việc phát hành lo cho “đầu ra” gặp nhiều khó khăn, đa số tác phẩm ít có dịp đến tay bạn đọc của cả nước. Trần Thế Vinh, bên cạnh dãy Thất Sơn thần bí, nhiều huyền thoại, cũng khó có thể khai thác hết những “tiềm năng” của bộn bề hiện thực cuộc sống chung quanh. Nhà thơ có lúc chạnh buồn: “ Theo sông vớt một ý thơ/ Hoàng hôn rụng tím bến bờ tháng năm”…Thì thôi mượn hai khổ thơ cuối trong bài thơ “Dọc đường thơ” của Vinh để kết lại bài viết đọc thơ này vậy: “ Dọc đường. Thơ rớt đôi hàng/ Xuống phà Cao Lãnh đò ngang vớt tìm/ Có người ché nước mò kim/ Có người đứng lại lim dim ngắm trời/ Dọc đường. Ngôn ngoại cạn lời/ Vẽ ta một áng mây côi cút chờ/ Trăng lên gỡ mối tóc tơ/ Cho nàng rực sáng như thơ đêm rằm…” ( Trang 134). Và dường như Trần Thế vinh đang “ lim dim” ngắm núi, ngắm sông quê mình…

Vàm Cỏ Đông, tháng 7/ 2013.
                          

TRẦN HOÀNG VY

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Cám ơn bạn đã thảo luận!