Chủ Nhật, 21 tháng 4, 2013

Người nằm đây mà câu thơ lưu lạc - Minh Trâm




Nhân đọc tp thơ “Bài ca con dế lửa” của Nguyễn Ngọc Hưng
 
Tôi quen và biết Nguyễn Ngọc Hưng qua những hình ảnh trong trẻo tuổi thơ, trong “Từ khi có phượng”, “Những khúc ca trên cỏ”. “Bài ca con dế lửa” của anh hôm nay vẫn vậy, vẫn tươi tắn, hồn nhiên yêu thương cuộc đời, nhưng tôi nhìn thấy trong những vui cười ấy tâm thức của con người lưu lạc. Dù anh không hề nhắc đến sự ra đi, không hề ra hiệu lên đường, cũng không một lần cố tình than thở, tôi vẫn thấy trong thơ dáng hình của một người trôi dạt, cùng một tiếng thở dài, dẫu rất phù du.

Sự lưu lạc trong thơ Nguyễn Ngọc Hưng là sự lưu lạc của một đôi chân đứng yên, của một “góc trời” giữa cái “bao la”[1], là sự lưu lạc giữa quê hương, lưu lạc trong thân phận, lưu lạc trong tình yêu. Dẫu lạc quan bao nhiêu, sự lưu lạc, sự lạc loài vẫn không thể tránh khỏi đối với người nghệ sĩ. Mà câu thơ của một đôi chân không biết đến những chân trời, làm sao tránh khỏi một lần tuyệt vọng? Làm sao không thấy mình ngàn lần cách biệt với tha nhân, với vạn vật chuyển động? Làm sao không thấy mình xa lìa với những con đường, không thấy mình gần gụi với mọi sự ra đi?

Hồn thơ đã đi thay, đã thay người tìm kiếm, đã hoan lạc bội phần. Và đớn đau cũng bội phần. Đối với Nguyễn Ngọc Hưng, lưu lạc là một bản mệnh, mà cũng là một bi kịch. Cảm thức lưu lạc trong thơ Nguyễn Ngọc Hưng ẩn giấu dưới những ý tưởng về sự ra đi, sự cách biệt, về hiện thực trễ tràng, lạc lối. Và thơ, là những câu chữ nói lên tiếng nói của một tâm thế điềm nhiên. Mà dẫu ở tận cùng của sự điềm nhiên, thì bản thân sự nói lên, đã là động thái của một niềm hoài tiếc, một sự níu giữ rồi.

Với Nguyễn Ngọc Hưng, có lẽ, quê hương vừa là bằng hữu, vừa là ân nhân, vừa là nơi rong chơi của tuổi trẻ, với ngát xanh màu cỏ và rúc rích tiếng côn trùng, vừa là chốn nương nhờ, là “chiếc nôi thơm thảo” giữa dãi dầu thân phận. Nhưng hồi đáp lại ân tình ấy không chỉ có những hân hoan, mãn nguyện, còn có cả những tủi hờn. Những ngọt ngào có thật, nhiều lúc như đã lùi về chiêm bao, khi mà những mất mát ở “Sông Vệ nhớ thương” dắt díu nhau hiện về:

Ngoại hóa mây rồi mẹ cũng hóa sương
Xa biền biệt em hóa gì chẳng rõ
Ngơ ngác về soi - bụi đen bụi đỏ
May dòng quê chưa quên mất mặt mình

Người sống ở quê hương mà như lạc lối đâu về. Người còn lạ gì những đớn đau mà giọng thơ ngậm ngùi như thể vừa nhìn ra mất mát, như mới trở về sau hàng vạn chuyến đi? Cũng phải thôi, với đau thương thì một lần hồi tưởng là thêm một lần đau, đau nguyên vẹn, đau ngơ ngác như lần đầu.

Có khi, đứa con của quê hương ở trên quê hương mà như lưu lạc nơi vùng trời khác:

Ngơ ngác tháng ba chiều lưu lạc mắt cò
Đồng lúa đã vuông vức lên lô lên tầng lên phố xá
Xa xót như vừa đánh rơi mùi rạ rơm từ tiếng chim cô quả
Nguồn xưa cội cũ không còn ổ lá có còn không
                                                            (Nhặt lại một làn hương)

Hay “Ở quê nhớ quê”:

Người đi xa tưởng vọng về
Lẽ thường thôi! Mình ở quê hương mình
Vậy mà bóng nhớ lung linh
Như trăng trong nước như hình trong gương

Bởi:

Quê giờ phố xá giăng giăng
Lạc loài gió - lạc loài trăng - lạc loài…

Nỗi nhớ quê hương của người viễn xứ thì gắn với niềm khao khát được hồi hương, còn nỗi niềm “ở quê nhớ quê” thì biết làm sao hóa giải? Làm sao để chạm được vào những bóng hình cách ta cả một vùng thực ảo, “như trăng trong nước”, “như hình trong gương”? “Ở quê nhớ quê” bỗng nhiên làm tôi nhớ đến hai câu thơ của Nguyễn Bính:

“Hôm nay có một người du khách
Ở Ngự Viên, mà nhớ Ngự Viên”

Đó là gì, nếu không phải là tâm thức lưu lạc của thi sĩ? Trôi dạt cả khi đang đứng yên, trôi dạt giữa quê hương đổi mới từng ngày.

Giữa những bất hạnh, Nguyễn Ngọc Hưng đôi khi cũng ý thức được sự tự đủ đầy của mình, để hướng đến một tinh thần vô nguyện – tước bỏ mọi thỉnh cầu, trở về hưởng lạc những gì vốn có. Có lẽ, nhà thơ đã đi qua lắm lần tuyệt vọng trước khi xác tín rằng “Cuộc sống không bao giờ chán nản”. Và cái niềm tin ấy, sau này, chắc cũng lắm lần quy hàng cơn tuyệt vọng. May mà tiếng thơ đã cất lên khi niềm tin tưởng vừa lóe:

Này xem
Ngay cả lúc bụng nhà trống trơn
Mặt bàn viết, lòng tủ thơ rỗng tuếch
Đêm chìm đắm trong bóng đêm mỏi mệt
Ta vẫn còn phong phú những giấc mơ

Những giấc mơ
Những giấc mơ
Ôi, những giấc mơ
Luôn đẹp đến không ngờ
Và luôn thế - trăm phần trăm miễn phí!
                                                            (Cuộc sống không bao giờ chán nản)

Mơ, là hoạt động tự thân của những ước muốn chân thực nhất, là quá trình diễn biến tự do nhất. Mơ và thực là hai cảnh giới nối dài nhau, hay phủ định nhau? Giấc mơ thuộc về đời sống? Hay, giấc mơ chỉ là một cứu cánh cho đầy rẫy những hệ lụy trần gian? Nhà thơ đến với “phong phú những giấc mơ” để đắm chìm trong cuộc sống, hay để đi ra khỏi cuộc sống, để hóa giải những bất hạnh, những dở dang của cuộc sống? “Cuộc sống không bao giờ chán nản” là xác tín nảy ra trong cuộc lưu lạc của nhà thơ trong không gian sống của mình, từ thực tại, đến “những giấc mơ, những giấc mơ”. Truy vấn đến tận cùng xác tín ấy, có lẽ ta chỉ nhìn thấy sự phi lý, nhưng nếu lấy chính những dòng thơ làm lý lẽ, thì xác tín ấy dễ hiểu vô cùng. Mơ và thực có khác gì nhau, đối với những dòng thơ viết nên từ mộng mị? Ở Nguyễn Ngọc Hưng, có lẽ, mơ đã trở thành một lựa chọn về không gian sống, về phương cách sống. Mơ, là một trong những cách anh chọn để tin tưởng cuộc đời. Nhưng bên trong lựa chọn này, là một sự chối bỏ khác, với “bụng nhà trống không”, với “lòng tủ thơ rỗng tuếch”, với “bóng đêm mỏi mệt. Với những cuộc “đối diện” mà đơn phương độc thoại:

Hỏi cây cây đứng lặng thinh
Hỏi đá đá sầm mặt lạnh
Hỏi gió hỏi chim mộng du vẫy cánh
Hỏi thời gian tí tách vọng giọt buồn
                                                (Đối diện với chiều thơ)


Với những lần tự đặt mình cách biệt khỏi thế giới, khỏi tha nhân, trút bỏ vai tuồng ngượng nghịu để quay về làm người xa lạ:

Đã rời xa bái biệt mọi thân tình
Chỉ còn lại chốn xưa chiều với ta đối diện
Chiều tắt lặng ta thì nghẹn điếng
Hai con mắt vô hồn lơ láo nhìn nhau…
                                                (Đối diện với chiều thơ)

Giữa thân phận mình và giữa tha nhân, sự lạc loài cô độc là bản mệnh của người nghệ sĩ. Và bản mệnh đương nhiên trở thành bi kịch, khi người thơ vẫn thiết tha vươn ra cuộc đời.
Bước ra khỏi những giấc mơ, những “sân khấu đời”, người thơ có lúc lại về với trần trụi bản thể, với “điêu ngoa trả hết cho trần thế” trong bài thơ Cởi áo:

Không hoa lá cành che đậy nữa
Ta về đối diện với ta thôi
Rốt rồi cũng “thổ lai hoàn thổ”
Còn xót xa chi chuyện lở bồi

Thì thôi! Mọi “hóa thân” chỉ làm rã rời bản ngã, mà phi lý vẫn hoàn phi lý, mà “Muôn hóa thân chưa sắm nổi một vai tuồng/Sân khấu cuộc đời lại lấp lóa lu lơ những đèn đóm khói sương mờ tỏ”.

Lại qua giữa thực tại và ảo mộng, giữa “Sân khấu cuộc đời” và “trần trụi ta” như một cuộc lưu lạc giữa một dòng sông, có bờ mà không có bến. Ta đến với những giấc mộng, ta đến với sân khấu đời, và ta đến với ta – muốn đến đâu cũng phải “lên đường”. Suốt đời cứ phải đi hoài trên những hành trình ấy, ta như con đò không bến đỗ, phải lại qua, lại qua.

Thơ tình của Nguyễn Ngọc Hưng là thơ của khao khát kiếm tìm, nhưng luôn phải đối diện với thực tại “muộn”, “lỡ”, “trễ”, “không kịp”.

Muộn rồi, đã muộn rồi sao
Buồng cau phai biếc dây trầu héo xanh
                                                (Muộn đò)

Sự muộn màng có thể chỉ là khoảnh khắc, nhưng hình ảnh trầu cau lại là biểu tượng của duyên số, của định mệnh. Biết thế, nên bài thơ từ chỗ ngỡ ngàng quay về với sự thư thả, điềm nhiên, như thể người đã quá quen với lỡ làng rồi:                
           
Đò ngang muộn chuyến cuối ngày
Biết là sông hẹp đêm nay rất dài…
                                                (Muộn đò)

Nhân duyên trong thơ Nguyễn Ngọc Hưng là nhân duyên của “cau héo trầu khô”, của nhân tình “xác xơ”, lỡ làng:

Đâu cũng cau héo trầu khô cũng sương gió dãi dầu
Sao không dắt nhau về sống tươi lại cùng tháng ba hoa gạo
                                                                                    (Lặng lẽ chốn xưa)

Hay là những hình tượng rời rạc, xô lệch:

Em như quả chín trái mùa
Tôi là hạt xanh lỡ vụ
(Thao thức nghiêng đêm)

Biến cố cuộc tình được lý giải chỉ bằng “nửa bàn chân”, bằng sự dịch chuyển tối thiểu của động thái “lệch”, “lách”:

Ngọn gió nào thổi lệch lời xuân?
Hay:
Ngọn gió nào lách nửa bàn chân?

 Chỉ “nửa bàn chân”, vậy mà đẩy em từ nơi xa vời đến vùng hư huyễn:

 Hư ảo em cuối cuộc kiếm tìm

Còn đầu này cuộc kiếm tìm, là tôi:

Tôi vẫn xanh
Xanh như mắt chiều lưu lạc
Nhìn đâu cũng tím rịm chân trời…

Rồi thu về trong “chút sáng thầm” của “vì sao xẹt”, trong một sự so sánh đầy mặc cảm.
Hóa ra, “nửa bàn chân” không chỉ là sự xê xích trong tấc gang, mà còn là sự bất toàn, dang dở. “Nửa bàn chân”, là một hình tượng đầy tính dự báo, cũng như “mắt chiều lưu lạc” và “tím rịm chân trời”…

 Thơ Nguyễn Ngọc Hưng luôn gợi đến những khúc ca, và dường như trong ý thức, anh luôn muốn dệt nên những hoan ca. Sự lưu lạc tôi nhìn thấy trong thơ anh không phải là những mảng màu u tối hoàn toàn tách biệt. Đó là những buồn thương rất mực đời thường vẫn im lặng đi cạnh mọi niềm tin yêu, cũng thường tình như tất cả các dòng sông đều chảy, có lở, có bồi. Điều đáng trân quý là, sư lưu lạc cuối cùng vẫn không tiến về hư vô, không tìm về hư ảo, người thơ vẫn thành kính “tạ ơn đời mỗi sớm mai”.     
Minh Trâm    

[1] Chữ của Hồ Sĩ Bình, tác giả bài viết “Từ một góc trời yêu cả bao la” trên báo Người viễn xứ, năm 2005.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Cám ơn bạn đã thảo luận!