Thứ Tư, 6 tháng 2, 2013

Tiếng chép miệng của Làng - Nguyễn Đức Dũng



Trong tập BÀI CA CON DẾ LỬA đầy đặn cả hai nghĩa của từ này vừa được NXB Hội Nhà Văn phát hành còn tươi màu mực của nhà thơ Nguyễn Ngọc Hưng, có một sự đợi chờ hết sức ngơ ngẩn mà cũng không kém phần duyên dáng, gói gọn trong bốn khổ lục bát mượt mà ở bài thơ “Miệng bình vôi”.
Nhà văn Nguyễn Đức Dũng đã bình bài thơ này, Đất Đứng trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.




Miệng bình vôi 
Đã mai vàng đã cúc vàng
Đã luênh loang cải hoa tràn bãi xưa
Xuân về em sắp về chưa
Qua chiều qua sớm qua trưa tôi chờ…

Lơ ngơ bắp đã trổ cờ
Dại rùm lau cũng phất phơ bông rồi
Lục bình tím ngẩn ngơ trôi
Đò neo bến cũ tôi ngồi đợi em

Kệ bầy con nít bu xem
Mặc ai chỉ trỏ tiếng gièm tiếng pha
Nhớ nhau cháy ruột gan mà
Nghiêng nghiêng một chút cũng là tự nhiên

Qua tháng chạp… qua tháng giêng
Về đâu ơi lúm đồng tiền của tôi
Tàn xuân vãn hội lâu rồi
Lá trầu để miệng bình vôi há hoài ?
Nguyễn Ngọc Hưng 



Tiếng chép miệng của Làng


Trong tập BÀI CA CON DẾ LỬA đầy đặn cả hai nghĩa của từ này vừa được NXB Hội Nhà Văn phát hành còn tươi màu mực của nhà thơ Nguyễn Ngọc Hưng, có một sự đợi chờ hết sức ngơ ngẩn mà cũng không kém phần duyên dáng, gói gọn trong bốn khổ lục bát mượt mà ở bài thơ “Miệng bình vôi”.


Ngay cái tựa bài thơ đã thấy bắt mắt rồi, thường thì đây là một biểu tượng rất gần gũi và thiêng liêng trong tâm thức của người Việt, nó làm ta nghĩ ngay đến Bà, đến Mẹ và ở một thời đoạn nào đó của một đời người, nó nói đến duyên số vợ chồng v.v… Bởi vậy bài thơ làm cho ta muốn “đọc” thử tác giả ví von điều gì, gởi gắm điều gì giữa một tập sách dày trang và điệp trùng câu chữ.


“ Đã mai vàng đã cúc vàng/ Đã luênh loang cải hoa tràn bãi xưa/ Xuân về em sắp về chưa/ Qua chiều qua sớm qua trưa tôi chờ…”


Thì ra lại là cái mong ngóng suốt “chiều, sớm, trưa” của người ở quê nhà đối với một người rất có vấn đề để mà chờ đợi, khi ngoài kia trời đất đã xuân rồi, cây lá đã xúng xính lộc cành bày hoa khoe sắc để đón một mùa xuân mới. Vậy mà người đi vẫn chưa tăm hơi, lại là “em” mới khổ. Ôi! cái đối tượng làm tình làm tội biết bao nhiêu trái tim và mỏi mòn cơ man ánh mắt, một cảm thức xưa như trái đất của trạng huống lứa đôi yêu thương mà ly biệt. Còn nhớ Đào Tấn từng than: “Ly biệt ly biệt/ Tơ bay đầy trời như tuyết”.


“Lơ ngơ bắp đã trổ cờ/ Dại rùm lau cũng phất phơ bông rồi/ Lục bình tím ngẩn ngơ trôi/ Đò neo bến cũ tôi ngồi đợi em”.


Đến đây thì ta vỡ vạt ra cái ngơ ngẩn của kẻ đợi chờ, đã thế còn cố công vớt vát ”Bắp trổ cờ, lau phơ phất và lục bình ngẩn ngơ” chớ “ tôi” có liên can gì đâu. Giỏi là đây mà tệ cũng chính chỗ này, giỏi là giỏi vụng chèo nhưng khéo chống khi cho rằng ba thứ phơ phất kia nó đã đến hạn, tức là giỏi bao biện mà cũng vụng bao biện vậy. Tự đời thuở nào thì cây lá vốn tự nhiên, đến thì hoa nở tới giờ trăng lên chớ hoàn toàn chẳng phải vì ai đó, lại càng không hề vì một “em” nào cụ thể xa quê chưa kịp về đón Tết khi buổi giao thời trời đất đã dần sang. Đấy chính là tác giả hay ít ra là anh chàng trong bài thơ tự trổ cờ lòng mình, tự ngơ ngẩn nỗi nhớ mong không chịu thấu và tự vuốt ve trôi dặt dìu kỷ niệm. Bởi cuối cùng rồi anh ta cũng đành thú nhận lòng mình bằng “Đò neo bến cũ…”.

“Kệ bầy con nít bu xem/ Mặc ai chỉ trỏ tiếng gièm tiếng pha/ nhớ nhau cháy ruột gan mà/ Nghiêng nghiêng một chút cũng là tự nhiên”


Hình như có lời ra tiếng vào của bà con chòm xóm, đại thể như: “ A! Hơi đâu mà trông mà đợi cho hoài cho uổng, có khi nẫu đã yên bề nơi chốn ơ…v.v…”. Mặc kệ! Mọi đàm tiếu còn có nghĩa gì, khi yêu trái tim nó sai khiến mà, cho nên nhớ nên thương nên chờ nên đợi là cái sự đương nhiên.


Tuy vậy có lúc cũng phải chống đỡ một cách yếu ớt cho có kẽo rồi ra người đời bia miệng biết đâu mình sẽ nãn lòng, nên chi cũng phân bua vài lời cho khí phách “Nghiêng nghiêng một chút cũng là tự nhiên”. Đến đây thì người ngoài cuộc đành thông cảm mà thương cảm cho kẻ tình si kia bằng một cái chép miệng kín đáo.

Nhưng cuối cùng hình như kẻ đợi nhận ra sự vô vọng của mình, thời gian đã không chờ không đợi ai nữa, nó đã “Qua tháng chạp… qua tháng giêng/ Về đâu ơi lúm đồng tiền của tôi/ Tàn xuân vãn hội lâu rồi/ Lá trầu để miệng bình vôi há hoài ?”. Đây là lần thứ hai tác giả dùng dấu ba chấm, nó tố cáo sự hoài nghi cuả người chờ đợi rồi, sau khi ngay từ lần khẳng định bằng dấu ba chấm ở cuối câu thơ thứ tư của khổ thơ đầu “tôi chờ…” dấu ba chấm này như một dự báo mà chính người hết lòng trông ngóng kia cũng hơi thiếu niềm tin. Than ơi! Biết sao được, đành chờ thôi, chờ như chờ lòng yêu của mình vượt qua những thử thách nghiệt ngã địa lý phụ phàng địa ý, nó cũng như trái ổ qua vậy, miếng ngon chính là miếng đắng.


Bốn câu cuối của bài thơ ngỡ ngàng buồn và đẹp, bởi sự ví von điệu nghệ mà thành khẩn. Hỏi sao ai không tiếc cái lúm đồng tiền nhỏ xinh trên má hường thiếu nữ mình mộng mơ tơ tưởng, đổ vào đấy biết mấy nhớ nhung thương quý cho đầy. Ai đã từng lâm trận mới thấm đòn cái biểu tượng chết người ấy. Nói nhỏ thôi chớ anh chàng trong bài thơ này khờ quá, như tôi đây dại nhiều lần rồi nên biết, mới thấy cái chép miệng của bà con ở làng trong tình cảnh này nó thấm thía lắm, hay như một câu nói văn vẻ mà tôi nghe lóm được thì “Niềm hân hoan bị đánh cắp.” Tội!. Nên chi sự than thân trách phận bằng cách tự ví mình như một bình vôi, vật thể có miệng vô thanh mà kêu đòi hờn oán lá trầu nồng không chịu thắm tình là một thú nhận đáng khâm phục.


Miệng bình vôi là bài thơ lời ít tình nhiều, chân thành thiệt bụng, mộc mà khéo. Có thể nói đây là một tác phẩm vừa HAY vừa GIỎI của Nguyễn Ngọc Hưng.


Tam Kỳ 14/01/2013
Nguyễn Đức Dũng.

1 nhận xét:

  1. Người Chăn Vịt05:10 1 tháng 3, 2013

    Bài thơ hay quá, từ ngữ giản dị mà duyên dáng thẫm đẫm tình người... Cái tựa "Miệng bình vôi" thật hấp dẫn mà đọc đến tận ... hết bài thơ, mới lộ ra, và nếu không có hình ảnh "lá trầu" đi kèm thì "miệng bình vôi" cũng chả nói lên được điều gì. Thật bất ngờ và thú vị đến kinh ngạc. Không hề nói gì đến đợi đến chờ mà câu kết của bài thơ đã nói lên nỗi niềm chờ mong vô vọng, bẽ bàng đến khôn cùng:
    Tàn xuân vãn hội lâu rồi
    Lá trầu để miệng bình vôi há hoài ?
    Lời bình của tác giả Nguyễn Đức Dũng cũng thật thấu đáo. Anh đã cảm thụ bài thơ thật sâu sắc và chia xẻ với người đọc cái chất dung dị và duyên dáng của bài thơ. Chân thành cảm ơn cả hai tác giả.

    Trả lờiXóa

Cám ơn bạn đã thảo luận!