Thứ Tư, 15 tháng 2, 2012

MIÊN MAN CON CHỮ - Truyện ký: Nguyễn Thanh Phương



MIÊN MAN CON CHỮ

Truyện ký: Nguyễn Thanh Phương


            Cách xa Tổ quốc chỉ là con sông. Khoảng trống mênh mông giữa đất và nước, hơn một trăm nóc gia người Việt nằm lọt thỏm giữa làng Mương Lốt trở thành xóm Mồ Côi. Cuộc sống người dân dường như thiếu đủ mọi thứ, cũng có thể gọi chung một từ là “đói”, từ đói cơm, đói thuốc men, đói văn hóa và đói cả thông tin từ bên ngoài. Họ sống gần như cam chịu trên mảnh đất tạm cư, bởi không còn nơi nào nữa để mà đi. Và cứ mỗi chiều nhìn con nước chảy về xuôi, ngậm ngùi nỗi nhớ quê hương.
            Một buổi sáng tôi theo đoàn lương y làm công tác từ thiện, đến làng để khám chữa bệnh, cấp thuốc miễn phí cho bà con ở xóm mồ côi. Ở đây không có bác sĩ, thầy thuốc, chỉ có một “Mụ Vườn” mà bà con thường gọi là chị Hai Sương. Chị giới thiệu đoàn với ông Sáu “Chẳng”. Ban đầu tôi cứ nghĩ “Sáu Chẳng” là tên “già làng” của xóm. Nhưng điều không ngờ tên “Sáu Chẳng” lại là một giai thoại. Chị Hai Sương kể:
Dân ở xóm Mồ Côi này, từ bên kia biên giới kéo sang đây làm ăn sau năm 1979 khi giải phóng Campuchia. Một hôm, bọn tàn quân Pôn Pốt tràn vô cướp bóc, bắn chết hơn bốn mươi người. May nhờ bộ đội Việt Nam đến giải vây kịp thời, nếu không cái xóm Mồ Côi đã bị thiêu rụi sạch. Rồi chi đưa tay chỉ về hướng nấm mồ chôn chung số người bị giết đêm đó. Đến năm 1989, khi quân tình nguyện Việt Nam rút về nước, bà con ở đây không biết nên về hay ở lại. Trong lúc bà con phân vân, lưỡng lự thì ông Sáu, tên thật của ông là Nguyễn Văn Tài mới đứng ra hô hào:
- Ở đây có ruộng đất để làm, về Việt Nam lấy gì mà sống. Ở đây “Chẳng” lẽ đói sao.
Từ đó, người dân gọi ông Tài là ông “Chẳng Lẽ”, sau gọi gọn lại là ông Sáu Chẳng cho đến bây giờ.
Ông Sáu Chẳng cao lớn, rắn rỏi đúng dáng người của ruộng rẫy vai u, thịt bắp. Mái tóc cắt ngắn, dù mới hơn sáu mươi tuổi nhưng đã bạc trắng. Ông nở nụ cười đưa hai răng cửa sún chào đón chúng tôi. Ông được bà con tín nhiệm cử làm Chi hội trưởng người Việt ở xóm này. Thấy chúng tôi mang vác đồ đạc lỉnh kỉnh từ ngoài xe tải vào. Ông vội huy động thêm số thanh niên trong xóm cùng giúp một tay.
            Nhà ông Sáu Chẳng trở thành nơi đoàn từ thiện làm việc. Bày biện vừa xong nơi khám và cấp thuốc, bà con trong xóm nghe tin ùn ùn kéo tới như đi xem trẩy hội. Con nít ở xóm chừng vài chục đứa, cũng bu quanh như xem chuyện lạ, vì từ trước đến nay, chưa bao giờ xảy ra sự kiện này. Chị Thu, một mạnh thường quân theo đoàn xách túi bánh kẹo bước ra phân phát cho các em. Mỗi em nhận được một bịch bánh kẹo kèm một số tiền mặt. Được nhận quà, mặt các em sáng rở, reo vui, mở ra so sánh với nhau rồi vô tư bóc ăn … Nhìn các em tôi chợt chạnh lòng. Sang Campuchia công tác đã hơn ba năm, đây là lần đầu tiên tôi tôi mới đến xóm Mồ Côi này. Không biết còn bao nhiêu xóm như thế này nữa.
Trong lúc đoàn làm việc, tôi thả bộ đi thăm xóm. Cuối xóm có một căn nhà sàn lụp xụp vang lên tiếng đánh vần ê a. Dưới sân có một số trẻ con đang nô đùa. Bỗng từ bên trong căn nhà có tiếng người đàn ông nói vọng ra rất to:
-          Các con mau vào chép bài mới.
Thì ra đây là một lớp học. Tôi lần từng bước chân lên cầu thang, đứng trước của lớp nhìn vào. Lớp học chẳng có bàn ghế gì cả. Các em đang ngồi học, khom lưng, cúi rạp đầu xuống chiếc ghế thấp đóng tạm bợ kê trên sàn nhà. Tay em nào cũng cầm bút bi, nắn nót gò từng con chữ. Tương phản với dáng ngồi học là những bộ quần áo xộc xệch, đủ loại. Thậm chí có em cởi trần trùng trục, da đen màu nắng nhuộm, đầu tóc bù xù. Nhìn ánh mắt của chúng, tôi thấy một niềm ham học sáng ngời. Học trò đã thế, thầy giáo càng không tưởng hơn. Ông quấn chiếc khố ngắn cùng chiếc áo bộ đội bạc màu đã sờn vai. Trên gương mặt nhiều vết nhăn thời gian, râu ria không cạo cùng mái tóc muối nhiều hơn tiêu dài chấm vai, trông như một nghệ sĩ hơn là thầy giáo. Chỉ có đôi mắt rất sắc và nghiêm. Tay thầy không cầm thước mà cầm cây roi mây đang gõ gõ những dòng chữ viết chệch choạc trên tấm bảng đen cũ kỹ, vài lõm tróc sơn hướng dẫn các em viết bài.
Thấy có khách lạ, ông thầy dừng lại nhìn tôi gật đầu chào đúng phép xã giao của người Việt. Ông nói với học trò:
-          Hôm nay nhà có khách, các con về sớm nhớ ôn lại bài cũ.
Lũ học trò như bầy ong vở tổ, thu dọn tập viết, ùn ùn tuột xuống, chân đất cắm đầu, cắm cổ chạy nhanh về nhà. Thầy giáo đưa tay mời tôi ngồi xuống sàn nhà, tươi cười nói như thân quen lắm:
-          Chú em ngồi xuống đây, nhà không có bàn ghế như ở dưới mình đâu!
      Tôi khẽ gật đầu chào thầy và cũng cởi mở:
-    Không sao đâu chú.
Thầy giáo rót nước mời tôi.
-          Chú em từ Việt Nam sang à?
-          Vâng, tôi theo đoàn thiện nguyện Việt Nam sang đây làm từ thiện, khám và cấp thuốc cho bà con mình sau mùa lũ.
Đôi mắt thầy chợt chìm đi và nhìn ra ngoài. Cơn lũ đi qua đã cuốn trôi biết bao hoa màu, cây trái. Dưới gốc nước vẫn còn lấp xấp đọng lại. Thầy thở dài:
-          Dân mình ở đây thiệt khổ, hết giặc, tới lũ, hết lũ tới đói, mỗi năm ở đây phải người dân phải hứng chịu không biết bao nhiêu khổ nhọc mà kể.
-          Bà con mình gốc gác ở đâu vậy chú?
-          Có người trước ở An Phú, Khánh Bình, có người ở Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Long An cũng kéo sang. Nghe đồn đất Campuchia lúa tốt, tôm cá nhiều, nên tụ tập qua đây làm ăn. Lúc quân tình nguyện Việt Nam về nước, hơn trăm gia đình ở lại, vì trở về không có ruộng đất khó sống. Ở đây tuy có cực khổ nhưng sống được.
-          Có gia đình nào muốn hồi hương không chú?
-          Họ cam chịu rồi. Thay đổi môi trường sống cũng không phải dễ dàng. Vả lại chính quyền ở đây đã tạo điều kiện giao đất, lập xóm.
-          Còn lớp học này ai mở vậy chú?
-          Lớp lang gì chú em ơi.
Rồi thầy đưa tay chỉ chồng sách giáo khoa đã cũ vàng, đen sì dưới gầm bàn, phân bua:
-          Nói thiệt với chú em mày, tao chỉ là thầy giáo bất đắc dĩ. Thấy các em ở đây không biết chữ nên mở lớp dạy đại. Các xứ khỉ ho, cò gáy này ai can đảm vào đây để dạy. Cơ sở vật chất trường lớp không có, lương bỗng cũng không. Ở đây xa chợ, thị trấn gần mười cây số, mùa khô đầy bụi, nắng rát thịt da, mùa mưa nước dâng cao hơn một mét, đi chợ bằng xuồng ghe, lấy đâu tinh thần để bám trụ dạy học.
-          Hồi ở Việt Nam chú có qua trường lớp nào không?
Ông vỗ vai tôi cười lớn:
-          Từ nhỏ đến giờ tao đi ở đợ, chăn trâu cho người ta. Nhà nghèo, anh em đông, lấy đâu ra tiền để đi học, chỉ học lóm trường làng, đọc được, viết được rồi dạy. Dạy riết rồi cũng có kinh nghiệm. Vả lại, chỉ xóa mù cho các em thôi mà.
-          Lớp học được bao nhiêu em hở chú?
Đôi mắt thầy chợt sáng lên:
-          Năm mươi tám đứa. Ôi thôi mệt mấy đứa này lắm, học thì bữa đực bữa cái, vui thì đến học, buồn bỏ đi tát cá, mót lúa, nhiều đứa học hoài chỉ biết đánh vần.
-          Gia đình các em hàng tháng có hỗ trợ tiền bồi dưỡng cho chú không?
-          Trời ơi, gia đình đứa nào cũng nghèo rớt mồng tơi, ở đó mà tiền với nong. Nói nào ngay, khi bắt được con cá, luộc được nồi khoai, tụi nó mang qua biếu tao, tao không muốn tụi nhỏ dốt quên dần tiếng mẹ đẻ, nên tao cố gắng dạy tụi nó bằng cái “tâm” là chính, dạy cao hơn nữa tao chịu.
-          Sách giáo khoa bậc tiểu học, mình gởi mua từ Việt Nam hả chú?
Ông đứng dậy lục trong chồng sách giáo khoa, rút ra bốn cuốn đưa tôi xem, từ lớp một cho đến lớp bốn:
-          Lúc đầu dạy mò, tao bí quá mới nhờ đứa cháu về Việt Nam xin chương trình để dạy cho có bài có bản hơn. Tao đã gần đến tuổi “thất lập cổ lai hy” trải qua bao biến cố ở Việt Nam lẫn Campuchia, tao hiểu thế nào là cuộc sống. Nhiều khi không biết chữ cũng là một cái tội. Thiếu muối, đói cơm còn có thể khắc phục được. Nhưng thiếu con chữ không gì bù đắp được, thiệt thòi đủ thứ, nhìn lũ trẻ  ở đây đang rơi vào hoàn cảnh đó, khiến tao thật sự nao lòng. Lúc chú em mày vào đây, có thấy ngôi nhà sàn cất cao ráo, khang trang trên đường lớn đó không? Đó chính là ngôi trường dạy tiếng Việt do người Hàn Quốc lập nên. Chỉ có điều tao thật sự không hiểu thật sự có phải là ý tốt của họ không?
Ông thầy già nói xong, đưa mắt nhìn đàn cò trắng đang vỗ cánh bay về phương Nam, đôi mắt rưng rưng dòng lệ. Từng ấy tuổi, ông thấm thía nỗi tha hương, đôi bờ Tổ quốc rất gần, mà sao nó xa xăm đến ngậm ngùi.
Tôi móc túi gom hết số tiền còn lại trong bóp, nắm chặt bàn tay gân guốc của thầy:
-         Chú cho cháu gửi ít tiền mua thêm giấy bút cho các em.
Ban đầu thầy kiên quyết từ chối. Nhưng nhìn thái độ tha thiết và chân thành của tôi, bàn tay ông xiết nhẹ, gật đầu thu nhận. Tôi từ giả thầy bước xuống cầu thang. Cánh tay đen đúa của thầy đang vẫy vẫy chào. Bước chân đi mà trong lòng tôi trào dâng bao cảm xúc và tự nghĩ ngày mai mình trở lại biết có còn gặp lại ông thầy giáo làng đáng kính đó nữa không. Ngoài trời mưa thu rơi xuống nhè nhẹ, trên khoảng đường tôi về, bỏ lại phía sau lưng nỗi miên man con chữ.

Mùa lũ năm 2011
NTP

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Cám ơn bạn đã thảo luận!